>>
You're reading...
Công pháp quốc tế

Phần 8: Mối quan hệ giữa Điều ước quốc tế và Tập quán quốc tế

*Ghi chú về việc sử dụng thuật ngữ: Thuật ngữ “luật quốc tế” được sử dụng trong bài viết này được hiểu là “công pháp quốc tế”, nếu không có chú thích gì thêm.

Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là hai hình thức (nguồn) chính yếu và quan trọng nhất của luật quốc tế. Hai loại nguồn này không độc lập, tách biệt mà có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau.

1. Ưu thế của điều ước quốc tế so với tập quán quốc tế

Điều ước quốc tế có nhiều ưu điểm hơn tập quán quốc tế như tính rõ ràng, khả năng hình thành nhanh và áp dụng thuận lợi. Chúng ta có thể chứng minh luận điểm này thông qua những đặc điểm đã phân tích trên, tuy nhiên thông qua hình thức thể hiện của tập quán quốc tế và điều ước quốc tế ta sẽ càng thấy rõ ưu điểm của điều ước quốc tế.

Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế về bản chất đều là sự thoả thuận của các chủ thể luật quốc tế, tuy nhiên phương thức thoả thuận và hình thức thể hiện của chúng là khác nhau. Điều ước quốc tế được thể hiện bằng hình thức văn bản; tập quán quốc tế tồn tại ở hình thức không thành văn và trong nhiều trường hợp được hình thành từ “thoả thuận im lặng”. Chính từ hình thức thể hiện của điều ước quốc tế là văn bản và phương thức thoả thuận trực tiếp nó đã quyết định tính rõ ràng, dẫn tới sự hình thành một cách nhanh chóng và việc áp dụng sẽ thuận lợi hơn tập quán quốc tế.

2. Ưu thế của tập quán quốc tế so với điều ước quốc tế 

Tập quán quốc tế có ưu thế hơn so với điều ước quốc tế ở các khía cạnh sau :

–               Vị trí, vai trò của điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

–               Sự tác động qua lại giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tê

–               Hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

2.1. Vị trí, vai trò của điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

Khi xét về vị trí, vai trò của điều ước quốc tế và tập quán quốc tế chúng ta không thể khẳng định rằng điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế là nguồn quan trọng hơn. Ý nghĩa cơ bản nhất là ở vị trí của quy phạm tập quán hay quy phạm điều ước trong hệ thống pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào việc đó là quy phạm mệnh lệnh hay quy phạm tuỳ nghi, quy phạm toàn cầu hay khu vực.

Trong lịch sử quan hệ giữa các quốc gia, tập quán pháp lý quốc tế với tư cách là nguồn của luật quốc tế xuất hiện sớm hơn nhiều so với điều ước quốc tế. Trong thời kỳ cổ đại và trung đại, quan hệ giữa các quốc gia chủ yếu được điều chỉnh bằng tập quán pháp lý quốc tế. Ngày nay điều ước quốc tế lại có chỗ đứng nhiều hơn trong việc điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế. Sự thay đổi này chính là thay đổi về cơ cấu thành phần quy phạm luật quốc tế hiện đại chứ không phải thay đổi vai trò bản chất của mỗi loại nguồn này.

2.2. Sự tác động qua lại giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tê

Về mặt lịch sử, tập quán quốc tế xuất hiện sớm hơn điều ước quốc tế, nhưng giữa hai loại nguồn luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau, tác động qua lại và bổ sung cho nhau, cùng thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ liên quốc gia phát sinh trong đời sống quốc tế. Cơ sở của mối quan hệ qua lại này thể hiện ở quá trình hình thành quy phạm của chúng.

Trước hết tập quán pháp lý quốc tế tác động đến sự hình thành và phát triển của điều ước quốc tế. Việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của luật quốc tế cho phép khẳng định rằng, nhiều quy phạm điều ước quốc tế có nguồn gốc từ quy phạm tập quán quốc tế. Cùng với sự phát triển tiến bộ của luật quốc tế, nhiều quy phạm tập quán được thay thế hoặc phát triển thành quy phạm điều ước. Trong quá trình soạn thảo điều ước quốc tế, hàng loạt quy phạm tập quán được các nhà làm luật tập hợp và pháp điển hoá trong điều ước quốc tế. Ví dụ : các quy định về luật biển quốc tế trong Công uớc Luật biển 1982 như chế độ qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài trong vùng lãnh hải, quyền tài phán của quốc gia trong nội thuỷ của mình, nhiều nội dung trong quy chế vùng trời hoặc quy định của luật ngoại giao và lãnh sự trong điều ước quốc tế đa phương có nguồn gốc, cơ sở từ tập quán quốc tế.

Sự tác động qua lại giữa hai loại nguồn của luật quốc tế thể hiện tiếp theo ở chỗ điều ước quốc tế tác động trở lại đến sự hình thành và phát triển của tập quán quốc tế. Sự tác động này thường xuất hiện chủ yếu từ các điều ước quốc tế có tính phổ cập. Ví dụ chứng minh cho lập luận này là có những điều ước quốc tế như công ước viên 1961 về quan hệ ngoại giao, công ước viên năm 1982 … có sự ký kết và tham gia của đa số các quốc gia trên thế giới, nhưng vẫn không phải tất cả các quốc gia. Thực tiễn cho thấy, các quốc gia không ký kết hoặc tham gia những công ước này cũng đều áp dụng các quy phạm của chúng, coi đó là quy phạm pháp lý ràng buộc mình với tư cách là tập quán. Như vậy, trong những trường hợp này quy phạm điều ước của luật quốc tế chung lại trở thành quy phạm tập quán điều chỉnh nhiều mối quan hệ phát sinh giữa các quốc gia với nhau trong đời sống quốc tế.

2.3. Hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế và tập quán quốc tế            

Về mặt lý luận, các quy phạm luật quốc tế dù là quy phạm điều ước hay quy phạm tập quán cũng đều có giá trị pháp lý như nhau, việc áp dụng loại quy phạm nào của luật quốc tế là tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực và từng mối quan hệ cụ thể, từng sự ràng buộc cụ thể có tính chất pháp lý của mỗi quốc gia với loại quy phạm nào đó, chứ không tuy thuộc vào sự phân chia thứ bậc về giá trị pháp lý của hai loại nguồn này.

Thông thường, trong giao lưu giữa các quốc gia có những mối quan hệ này được điều chỉnh bằng quy phạm điều ước và có những mối quan hệ khác được điều chỉnh bằng quy phạm tập quán. Hai nguồn này được bổ sung cho nhau, thay thế nhau, và trong thế giới hiện đại thì quy phạm điều ước là nguồn chủ yếu và quy phạm tập quán luôn giữ vai trò quan trọng, vẫn là nguồn của luật quốc tế, và vẫn được sinh ra từ các con đường khác nhau. Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ giữa các quốc gia, đôi khi xuất hiện trường hợp cùng một quan hệ xã hội cụ thể có cả hai quy phạm điều ước và quy phạm tập quán cùng tham gia điều chỉnh. Trong trường hợp như vậy các quốc gia sẽ áp dụng quy phạm nào ? Trong khoa học luật quốc tế từ trước đến nay chưa có quan điểm thống nhất về vấn đề này. Các quan điểm chung nhất ở Việt Nam và nhiều nước thường thiên theo hướng ưu tiên áp dụng quy phạm điều ước quốc tế. Lí lẽ để bảo vệ quan điểm này là ở chỗ dù rằng cả điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đều là kết quả thoả thuận ý chí của các quốc gia nhưng ý chí đó được thể hiện trong điều ước quốc tế rõ ràng hơn, minh bạch hơn và mức độ ràng buộc trách nhiệm pháp lý cao hơn so với ý chí thể hiện trong tập quán quốc tế.

Thảo luận

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: