>>
You're reading...
Công pháp quốc tế

Phần 4: Cộng đồng quốc tế và Luật quốc tế

Sau khi xem xét vài khái niệm cơ bản, tính phổ quát và hiệu quả của luật quốc tế, bài thảo luận tiếp theo của chúng ta nên quan tâm tới việc đặt Luật quốc tế trong tương quan cộng đồng quốc tế để tìm hiểu vài cơ quan liên quan, hay thậm chí, có vai trò gắn bó mật thiết, tác động qua lại với luật pháp quốc tế.

Liên Hợp Quốc

Có thể nói, ngay từ khi manh nha thành lập, LHQ đã phải cân nhắc đến một hệ thống luật lệ có thể áp dụng liên quốc gia. Ngày nay, với vị thế là tổ chức quốc tế lớn và có uy tín nhất, thu hút được nhiều quốc gia tham gia hơn cả, LHQ được coi như trung tâm của cộng đồng quốc tế và Luật quốc tế. Với 192 quốc gia thành viên (sắp tăng lên 193 nếu đơn xin gia nhập của Palestine được chấp thuận), “Liên Hợp Quốc là một thể chế chính trị, trong đó các thành viên đều theo đuổi lợi ích quốc gia theo cách của mình”. Để thực hiện tốt vai trò đại diện cho toàn thể các quốc gia để theo đuổi lợi ích chung của cả cộng đồng thế giới, Liên Hợp Quốc sử dụng công cụ chủ yếu là luật quốc tế.

Trong sáu cơ quan chính của Liên Hợp Quốc được qui định trong Hiến chương là: Đại Hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Hội đồng quản thác, Tòa án quốc tế, Ban thư ký, thì hai cơ quan có vai trò chính là giải quyết tranh chấp quốc tế trên cơ sở luật pháp quốc tế là Hội đồng Bảo an và Tòa án quốc tế.

  • Hội đồng Bảo an

Hội đồng Bảo an chịu trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Thẩm quyển của Hội đồng Bảo an được xác đinh đối với các loại hình tranh chấp quốc tế mà khả năng kéo dài có thể đe dọa hoặc đe dọa hòa bình, an ninh quốc tế. Hội đồng Bảo an có quyền yêu cầu các bên giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp nêu ở Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc; có thể áp dụng các biện pháp phi quân sự, các biện pháp quân sự trong trường hợp có nguy cơ xâm lược, đe dọa phá hoại hòa bình.

Số thành viên của Hội đồng Bảo an giới hạn là 15, trong đó 5 ủy viên thường trực có quyền phủ quyết là (Anh, Pháp, Nga, Mỹ, Trung Quốc) và 10 ủy viên không thường trực được Đại Hội đồng bầu lại 2 năm một lần. Việt Nam được bầu nhiệm kỳ 2008-2009.

  • Tòa án Công lý quốc tế

Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) được thành lập ngày 6 tháng 2 năm 1946, có trụ sở đặt tại Lahaye. Cơ sở pháp lý để Tòa hoạt động là Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và Qui chế Tòa án công lý quốc tế được thông qua năm 1946.

Thẩm quyền của tòa án Công lý quốc tế được xác định trên cơ sở ý chí của chủ thể tranh chấp và khi thẩm quyền của Tòa được viện dẫn đến thì thẩm quyền này là độc lập, dựa trên sự tự nguyện của các bên hữu quan. Các quốc gia có thể lựa chọn thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa theo ba phương thức: chấp nhận thẩm quyền của Tòa theo từng vụ việc, chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa trong các điều ước quốc tế hoặc tuyên bố đơn phương chấp nhận thẩm quyền của Tòa.

Trên thực tế, trong hơn 50 năm tồn tại của mình, tuy số lượng vụ việc được đưa ra giải quyết tại Tòa không lớn, nhưng ngoài việc xem xét các tranh chấp quốc tế phát sinh, Tòa còn đóng góp nhiều ý kiến tư vấn pháp lý cho Liên hợp quốc, cũng như góp phần phát triển luật quốc tế và khoa học pháp lý quốc tế.

——————————————-

Tòa án Hình sự quốc tế

Tòa án hình sự quốc tế (International Criminal Court, gọi tắt là ICC) được thành lập dựa trên Quy chế Rome ngày 17/7/1998. ICC có thẩm quyền xét xử trực tiếp những tội phạm hình sự quốc tế căn cứ theo những quy định của Quy chế Rome.

Khác với Tòa án Công lý quốc tế (The International Court of Justice) có chức năng giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia là chủ yếu, ICC có cơ cấu tổ chức và hoạt động tương tự như các tòa hình sự của các quốc gia, trong đó có công tố viên (The Prosecutor) có chức năng điều tra và truy tố trước Tòa tương tự như chức năng của kiểm sát viên và công tố viên trong tòa hình sự ở các quốc gia. Mặt khác, những tội phạm được đưa ra ICC xét xử là những tội phạm hình sự quốc tế nguy hiểm nhất đáp ứng các yếu tố cấu thành tội phạm căn cứ vào luật hình sự quốc tế (International Criminal Law), trình tự thủ tục để truy tố và đưa ra xét xử căn cứ vào những trình tự thủ tục tố tụng hình sự quốc tế (International Criminal Procedure).

ICC độc lập với các Tòa án hình sự của các quốc gia, độc lập với cả Liên Hợp Quốc. Đối tượng chịu sự xét xử của Tòa là các cá nhân. Đặc điểm này giúp phân biệt với Tòa án Công lý quốc tế ở chỗ Tòa án Công lý quốc tế chỉ giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể của luật quốc tế, không chấp nhận những vụ việc mà một bên hoặc các bên là những cá nhân.

—————————————–

Tòa án Luật biển quốc tế

Tòa án Luật biển quốc tế được thành lập ngày 1/8/1996, có trụ sở chính đặt tại thành phố Hăm-buốc (CHLB Đức), theo quy định của Phụ lục VI về Quy chế tòa án quốc tế về Luật biển và Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp quốc.

Tòa án Luật biển quốc tế có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên cũng như tất cả các thực thể khác không phải là quốc gia thành viên của Công ước trong tất cả các trường hợp liên quan đến việc quản lý và khai thác vùng – di sản chung của loài người. Khác với Tòa án công lý quốc tế, Tòa án Luật biển quốc tế không có thẩm quyền giải thích luật.

———————————————

Tòa án Liên minh châu Âu

Tòa án Liên minh châu Âu là một trong các thiết chế chính của Liên minh châu Âu, được thành lập trên cơ sở Hiệp ước thành lập Liên minh châu Âu, ký ngày 7/2/1992 tại Mastricht, sửa đổi, bổ sung theo Hiệp ước Amsterdam 1997 và Hiệp ước Nice 2001.

Tòa án Liên minh châu Âu có thẩm quyền giải thích Luật của EU và đảm bảo cho pháp luật của Liên minh được các thiết chế thuộc EU, các quốc gia thành viên và công dân các nước thành viên tuân thủ. Thẩm quyền của Tòa rất rộng, bao gồm cả việc giải quyết đơn thư kháng cáo đối với Tòa sơ thẩm cộng đồng châu Âu, hay giải quyết các khiếu nại hoặc đơn yêu cầu về những phán quyết do Tòa đưa ra đối với các bên.

———————————————–

Thiết chế tài phán của Tổ chức thương mại thế giới

Thực chất, WTO không có cơ quan tài phán chuyên biệt. Cơ quan giải quyết tranh chấp – Dispute Settlement Body (DSB) của WTO chính là Đại Hội đồng của WTO. Nếu các bên tranh chấp không đạt được thỏa thuận bằng con đường tham vấn hoặc các con đường đàm phán khác, họ có quyền đệ trình lên DSB, và PANEL (nhóm chuyên gia giải quyết tranh chấp) được thành lập. Nhóm PANEL được thành lập bởi DSB chỉ có nhiệm vụ giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể, và lập tức giải thể sau khi thực hiện xong nhiệm vụ. Trong quá trình giải quyết, nhóm chuyên gia sẽ đánh giá khách quan về vấn đề tranh chấp và tiến hành các điều tra khác cần thiết. Sau khi xem xét tranh chấp, nhóm DSB sẽ đưa ra báo cáo cuối cùng. Bản báo cáo này sẽ được thông qua tại phiên họp của DSB, trừ trường hợp một trong các bên tranh chấp kháng cáo.

Trong trường hợp có kháng cáo, cơ quan phúc thẩm thường trực – Appelate Body được thành lập để xem xét kháng cáo của các bên tranh chấp. Báo cáo của nhóm phúc thẩm sẽ được đệ trình lên DSB và việc thông qua báo cáo này theo nguyên tắc đồng thuận tiêu cực.

Dựa trên các báo cáo của PANEL và Appelate Body, DSB sẽ thông qua các khuyến nghị và quyết định thích hợp. Các khuyến nghị này sẽ được các bên liên quan thực hiện trong một thời hạn nhất định theo qui định của DSB. Nếu quyết định của DSB không được bên thua kiện thi hành thì bên thắng kiện được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại hoặc tiến hành trả đũa thương mại.

Thảo luận

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: