>>
You're reading...
Công pháp quốc tế

Phần 1b: Luật quốc tế – Những kiến thức căn bản

Sau khi tìm hiểu xong phần 1a: “Mở đầu luật quốc tế” chắc hẳn các bạn cũng đã nắm được khá rõ ràng những khái niệm cơ bản nhất. Tiếp theo chúng ta sẽ cùng đến với phần 1b, tuy rằng ở bài viết này có những kiến thức lặp lại của phần 1a nhưng hai bài viết lại thể hiện hai cách tiếp cận khá khác nhau, nếu ở phần a các bạn được dẫn dắt làm quen với những khái niệm tổng quát của luật quốc tế thì ở phần b này các bạn sẽ được tiếp thu những kiến thức một cách tổng hợp, rõ ràng và đầy đủ hơn, giúp cho việc tìm hiểu và nắm bắt kiến thức ở những bài viết chuyên sâu sau này được dễ dàng và hiệu quả hơn.

 

Luật quốc tế – Những kiến thức căn bản

 

1. Luật Quốc tế – luật hay không luật?

Theo ý kiến của tôi thì Luật Quốc tế là luật.

  •  Có những quan điểm cho rằng:

Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế. Do LQT không có một cơ quan lập pháphành pháp nhất định như luật QG…, nó được xây dựng và thực hiện trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng giữa các QG, không có tính bắt buộc, không có các chế tài xử phạt nên nó không thực sự là luật mà chỉ là một hệ thống văn bản bao gồm các nguyên tắcqui phạm pháp luật.

  • Tuy nhiên xét về bản chất, vẫn có thể nói rằng LQT thực sự là luật.

Bản chất quá trình xây dựng các qui phạm pháp luật QT mà các QG tiến hành thông qua phương thức thỏa thuận chính là quá trình đưa ý chí quốc gia vào nội dung của LQT. Đồng thời, luật QG phải sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các qui định phù hợp với những cam kết quốc tế của QG đó. Do đó, LQT cũng là nhưng qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, buộc các quốc gia đã tham gia phải tuân theo.

2. Đánh gia vai trò của LQT như thế nào?

LQT là một bộ phận cơ bản của hệ thống QT. Liên quan đến QG và hệ thống QT, LQT giữ vai trò trung tâm, nó được các QG và các thực thể QT khác sử dụng với tính chất là công cụ pháp lí để duy trì sự phát triển của hệ thống QT trong một trật tự pháp luật nhất định và sự bao quát đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống QT.

 

3. Những đặc trưng của LQT về phương pháp xây dựng luật và so sánh với luật quốc gia.

* Luật QT được hình thành dựa trên cơ chế thỏa thuận. Trong hoạt động xây dựng qui phạm LQT thường thông qua hai giai đoạn: giai đoạn thỏa thuận giữa các QG về nội dung qui tắc và giai đoạn thỏa thuận công nhận tính ràng buộc của các qui tắc đã được hình thành.
LQT là kết quả của sự thỏa thuận, nhượng bộ lẫn nhau giữa các chủ thể, hướng đến lợi ích QG, dân tộc, cũng như vì lợi ích chung của cộng đồng các QG.

* Sự hình thành LQT khác với trình tự xây dựng LQG. Khi tiến hành hình thành LQT, thiếu vắng cơ quan lập pháp (LQG có cơ quan chung xây dựng luật là Quốc hội). Việc hình thành LQT là quá trình tự nguyện của các QG, thể hiện ở sự tự điều chỉnh quan hệ lập pháp mà các QG tiến hành theo phương thức thỏa thuận công khai bằng quan hệ điều ước hoặc mặc nhiên thừa nhận quy tắc xử sự trong tập quán QT.

 

4. Những đặc trưng của LQT về các biện pháp đảm bảo thi hành luật và so sánh với luật quốc gia.

* Khi LQT không được một chủ thể thực thi theo đúng yêu cầu (vi phạm về nghĩa vụ thành viên hoặc vi phạm qui định của LQT), thì pháp luật sẽ ràng buộc chủ thể vi phạm vào những trách nhiệm pháp lý QT cụ thể để buộc chủ thể đó phải có nghĩa vụ khôi phục lại trật tự pháp lý QT đã bị xâm hại.
* Chủ thể của LQT áp dụng nhiều cách thức, biện pháp để bảo đảm thi hành luật như: sử dụng điều ước QT và các cách thức pháp lý khác, tận dụng các yếu tổ chính trị, xã hội để tạo động lực cho sự thực thi LQT.

* Khác so với LQG, LQT không có cơ quan hành pháp trong việc cưỡng chế thi hành luật, không có cơ quan giám sát việc thi hành luật (như Viện kiểm sát)

 

5. Những đặc trưng của LQT về các chế tài và so sánh với luật quốc gia.

* Luật QT có những chế tài nhưng việc áp dụng chế tài của LQT do chính QG tự thực hiện bằng những cách thức riêng lẻ hoặc tập thể. Các biện pháp chế tài do QG áp dụng trong trường hợp có sự vi phạm quy định QT của một chủ thể khác (VD: cấm vận, cắt đứt quan hệ ngoại giao, sử dụng các biện pháp hạn chế trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, khoa học…sử dụng các sức mạnh quân sự để thực hiện quyền tự vệ hợp pháp hoặc để chống lại các hành động tấn công vũ trang…). Hiện nay LQT mở rộng các biện pháp chế tài do các tổ chức QT đảm nhiệm với vai trò chủ yếu của LHQ.

* So sánh với luật Quốc gia: LQG có cơ quan hành pháp thực hiện các chế tài thường trực như cảnh sát, công an, quân đội, tòa án…còn LQT thì các chế tài do chính các quốc gia tự thực hiện.

 

6. khái niệm nguồn của LQT (có phân biệt với nghĩa của từ “nguồn” trong ngôn ngữ thông thường) và cho ví dụ minh họa.

* Nguồn trong ngôn ngữ thông thường là nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến một sự vật, hiện tượng. VD: Nguồn gốc của loài người là quá trình tiến hóa từ vượn thành người.
* Nguồn của pháp luậthình thức biểu hiện của các quy phạm pháp luật. nguồn của pháp luật biểu hiện dưới 2 dạng thành văn và bất thành văn.

Hẹp: nguồn là hình thức chứa đựng, ghi nhận các nguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc tế nhằm xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp lý quốc tế. Theo đó, LQT gồm 2 loại nguồn cơ bản là điều ước quốc tếtập quán quốc tế.
–  Rộng: nguồn của LQT là tất cả những cái mà cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào đó để đưa ra các quyết định pháp luật.

 

7. Phân tích Điều 38 Quy chế TAQT: quy định những loại nguồn  của LQT; Ý nghĩa của điều khoản

Trả lời: điều 38 chính là cơ sở pháp lí để xác định nguồn.

* Khoản 1 điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tếcủa LHQ quy định”Tòa án có trách nhiệm giải quyết các vụ tranh chấp được chuyển đến tòa án trên cơ sở công pháp quốc tế theo:
– Các công ước quốc tế chung hoặc riêng đã thiết lập ra những nguyên tắc được các bên đang tranh chấp thừa nhận.
– Các tập quán quốc tế như là một chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận là một tiêu chuẩn pháp lý.
– Những nguyên tắc pháp lý được các dân tộc văn minh thừa nhận.
– …các Nghị quyết xét xử và các luận thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật pháp công khai của nhiều dân tộc khác nhau được coi là các phương tiện bổ trợ để xác định các tiêu chuẩn pháp lý.”

Nhận xét: Như vậy, Điều 38(1) Quy chế tòa án công lý quốc tế đã đưa ra danh sách các nguồn truyền thống của LQT như: các công ước quốc tế chung hoặc cụ thể, tập quán quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của LQT, các quyết định của tòa án và các bài giảng của các học giả có chuyên môn cao. Tuy vậy, Điều 38(1) chưa đề cập một cách đầy đủ các loại nguồn bổ trợ của luật quốc tế. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, ngoài các loại nguồn đã nêu trong điều 38(1) các chủ thể LQT còn thừa nhận một số các nguồn khác, có tính chất là nguồn bổ trợ cho nguồn cơ bản của LQT như: Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, hành vi pháp lý đơn phương của các quốc gia…Do đó, ngoài điều 38(1), thực tiễn áp dụng nguồn của các chủ thể LQT cũng là cơ sở để hình thành các loại nguồn của LQT.

 

8. Tập quán quốc tế ? Việc xác định TQQT được dựa trên những yếu tố cơ bản nào?
Định nghĩa: Tập quán quốc tế là hình thức pháp lý chứa đựng quy tắc xử sự chung, hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được các chủ thể luật quốc tế thừa nhận là luật.
VD: Hành vi phóng tàu vũ trụ qua không phận của các nước láng giềng được cộng đồng quốc tế thừa nhận là hành vi không cần xin phép  áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần và trở thành tập quán quốc tế.

* Điều kiện để một tập quán trở thành nguồn của LQT: Không phải qui tắc xử sự nào hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế cũng trở thành nguồn của LQT. Những tập quán là nguồn của LQT phải thỏa mãn các điều kiện sau:
– Quy tắc xử sự được coi là tập quán quốc tế phải lặp đi lặp lại nhiều lần, trong một thời gian dài liên tục và được các quốc gia thỏa thuận thừa nhận hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với mình.
– Phải là quy tắc xử sự chung, hình thành trong quan hệ giữa các quốc gia, được các quốc gia tuân thủ và áp dụng một cách tự nguyện..
– Quy tắc xử sự đó phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của LQT.

 

9. So sánh TQQT với ĐUQT, phân tích mối quan hệ giữa hai loại nguồn này.

Giống nhau: Cả tập quán quốc tế và điều ước quốc tế đều là kết quả của sự thống nhất ý chí của các chủ thể liên quan; chúng đều hình thành từ sự thỏa thuận của các bên liên quan; đều là nguồn chứa đựng quy phạm pháp luật quốc tế; là công cụ pháp lý quan trọng để điều chỉnh quá trình hợp tác quốc tế.
– Khác nhau:
+ Về hình thức: – Điều ước quốc tế là thỏa thuận công khai và được thể hiện dưới hình thức văn bản.
Tập quán quốc tế là những thỏa thuận mang tính chất ngầm định, bất thành văn.
+ Tốc độ hình thành điều ước quốc tế nhanh hơn tập quán quốc tế vì tập quán muốn được hình thành phải trải qua quá trình lâu dài thông qua nhiều sự kiện liên tiếp, còn điều ước chỉ cần một sự kiện duy nhất là sự ký kết hay tham gia của các chủ thể theo đúng trình tự, thủ tục. Thời gian hình thành điều ước nhanh hơn, theo sát được sự vân động của các quan hệ quốc tế.
+ Vấn đề sửa đổi, bổ sung trong điều ước đơn giản hơn rất nhiều so với tập quán, vì điều ước tồn tại dưới hình thức văn bản.

Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế: Đây là 2 loại nguồn chính, cơ bản của LQT, chúng tồn tại độc lập với nhau trong hệ thống nguồn của LQT (điều ước không có ý nghĩa loại bỏ hiệu lực áp dụng của tập quán; quá trình pháp điển hóa tập quán không làm mất đi tập quán đã được pháp điển hóa trong điều ước quốc tế), nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ tương tác, biện chứng với nhau. Điều này thể hiện ở chỗ:
* Trong quá trình xây dựng quy phạm luật quốc tế
Tập quán quốc tế có ý nghĩa là cơ sở để hình thành điều ước quốc tế thông qua quá trình pháp điển hóa. Việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của LQT cho phép khẳng định rằng, nhiều quy phạm điều ước quốc tế có nguồn gốc từ quy phạm tập quán quốc tế.
VD: các quy định về quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, lãnh sự xuất phát từ nguyên tắc tồn tại từ thời phong kiến là “không giết hại sứ thần”, ban đầu quy định này tồn tại dưới dạng tập quan quốc tế, sau được pháp điển hóa thành điều ước.
Điều ước quốc tế là cơ sở hình thành tập quán thông qua thực tiễn ký kếtthực hiện điều ước quốc tế

*Trong quá trình thực hiện LQT
– Việc tồn tại điều ước quốc tế không có ý nghĩa loại bỏ giá trị áp dụng của tập quán quốc tế tương đương về nội dung. Cả điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đều được hình thành từ sự thỏa thuận của các chủ thể LQT, do đó chúng có giá trị pháp lý ngang nhau, cùng song song tồn tại.
VD: nguyên tắc tự do biển cả tồn tại ở cả 2 hình thức là tập quán và điều ước
– Quy phạm tập quán có thể bị thay đổi, hủy bỏ bằng con đường điều ướcngược lại cũng có trường hợp điều ước quốc tế bị hủy bỏ hoặc thay đổi bằng con đường tập quán..VD: điều ước bị hủy bỏVD: Xuất hiện quy phạm Jus Cogens mới dưới dạng tập quán Tập quán có nội dung trái với quy phạm Jus Cogens mới ra đời tập quán này sẽ bị hủy bỏ

Tập quán có thể tạo điều kiện để mở rộng hiệu lực của điều ước quốc tế trong trường hợp các chủ thể của LQT không phải là thành viên của điều ước nhưng có quyền viện dẫn đến quy phạm điều ước với tính chất là tập quán quốc tế áp dụng cho bên thứ ba.
VD: Hiệu lực của điều ước với bên thứ 3 do viện dẫn các quy phạm của điều ước dưới dạng tập quán quốc tế.
Mối quan hệ trên đây khẳng định tính độc lập tồn tại của 2 loại nguồn cơ bản của LQT, đồng thời khẳng định mối quan hệ qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng trong các quan hệ quốc tế.

 

10. Khái niệm nguồn bổ trợ của LQT ?

Nguồn bổ trợ: đây là các phương tiện bổ trợ nguồn của LQT, chúng bao gồm các phán quyết của tòa án công lý quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung, nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ, hành vi pháp lý đơn phương của các quốc gia, các học thuyết của các học giả danh tiếng về LQT.

About themicu

đợp zai:))

Thảo luận

5 thoughts on “Phần 1b: Luật quốc tế – Những kiến thức căn bản

  1. Suy nghĩ của tôi về câu 1 giải thích vì sao tôi lại cho LQT là luật.

    Luật là những qui tắc sử xự chung và có mang ý chí của Quốc gia làm ra bộ luật đó. Với luật Quốc tế, các quốc gia cũng đem ý chí của mình để thê hiện trong các qui định, hiệp ước, điều ước,,,, có mang tính ràng buộc đối với các quốc gia có tham gia các hiệp định hiệp ước, điều ước đó. Hơn nữa các qui định của luật Quốc tế cũng phải sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để phù hợp đối với ý chí chung của các quốc gia thành viên. Mặt khác, QG cũng chỉ lựa chọn những luật QT phù hợp với mình và tương ứng với hoàn cảnh, luật, và ý chí của từng QG. Vậy nên ta có thể nói Luật QT cũng được coi như 1 bộ luật về “Quốc tế” – trong đó nêu lên các vấn đề, các khía cạnh, qui phạm pháp luật. trong lĩnh vực đời sống quốc tế của từng quốc gia vậy:)

    Posted by themicu | 03/10/2011, 12:47 sáng
  2. theo mình thì không đúng,để xem xét nó có phải là luật hay ko cần xem đối tượng điều chỉnh và ppđc.

    Posted by thomastho | 12/10/2012, 9:16 chiều
    • Chào bạn,
      Bạn có thể nói rõ hơn về hai nội dung “đối tượng điều chỉnh” và “phương pháp điều chỉnh” được không – hai nội dung này thỏa mãn những tiêu chí nào thì được coi là luật hay không phải là luật.
      Bạn có tài liệu tham khảo thì chia sẻ cùng bọn mình nhé.
      Cảm ơn bạn!

      Posted by Sugar | 23/10/2012, 10:55 chiều
  3. có thể cho mình hỏi là trong quá trình xây dựng luật thì luật quốc tế và luật quốc gia giống nhau ở những điểm nào

    Posted by thu huyền | 22/11/2013, 10:56 chiều

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: